Phụ nữ dân tộc thiểu số – Saoviet.net https://saoviet.net Trang tin tức giải trí Sao Việt Wed, 24 Sep 2025 14:12:56 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.7.2 https://cloud.linh.pro/saoviet.net/2025/08/saoviet-favicon.svg Phụ nữ dân tộc thiểu số – Saoviet.net https://saoviet.net 32 32 Mở lớp học xóa mù chữ cho phụ nữ dân tộc thiểu số ở vùng cao Hòa Bình https://saoviet.net/mo-lop-hoc-xoa-mu-chu-cho-phu-nu-dan-toc-thieu-so-o-vung-cao-hoa-binh/ Wed, 24 Sep 2025 14:12:54 +0000 https://saoviet.net/mo-lop-hoc-xoa-mu-chu-cho-phu-nu-dan-toc-thieu-so-o-vung-cao-hoa-binh/

Ở các xã vùng cao của tỉnh Hòa Bình, như Bao La, Tân Pheo, Đà Bắc, những lớp học đặc biệt được tổ chức sau mỗi mùa gặt. Các lớp học này dành cho vài chục người phụ nữ dân tộc Mường, Dao, Thái. Họ cùng nhau ngồi lắng nghe giảng viên dạy về từng nét chữ đầu tiên. Đây là những lớp “giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ”, một phần trong nỗ lực xóa mù chữ và nâng cao năng lực học tập cộng đồng do Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hòa Bình phối hợp tổ chức.

Từ năm 2020 đến nay, đã có 6 lớp như vậy được mở, với 125 học viên, 100% là nữ và là người dân tộc thiểu số. Họ đến lớp không vì điểm số, không vì bằng cấp mà vì một điều giản dị: Biết đọc tên mình, biết viết đơn xin vay vốn, hiểu những dòng chữ in trên bao thuốc trừ sâu hay đơn khám bệnh.

Bà Hà Thị Nhung, người dân tộc Thái ở xã Bao La, đã bắt đầu một hành trình mới – học chữ ở tuổi ngũ tuần. Trước kia, mỗi lần đi trạm y tế hay nhận hỗ trợ, bà đều phải nhờ người khác điền giúp giấy tờ. Có khi, cán bộ bảo ký tên, bà chỉ biết cười trừ, đưa ngón tay ra lăn dấu. “Tôi xấu hổ lắm. Đến tên mình cũng không viết nổi”, bà Nhung chia sẻ.

Cơ hội đến khi Trung tâm học tập cộng đồng xã Bao La mở lớp học sau biết chữ vào buổi tối, tranh thủ khi người dân đã thu hoạch xong mùa vụ. Lớp học nhỏ, chỉ có một chiếc bàn gỗ dài và những cuốn vở đã ngả màu theo tay học viên. Nhưng với bà Nhung, đó là thế giới khác – nơi bà bắt đầu nhận diện lại chính mình qua từng con chữ.

Tính đến nay, các xã khu vực Hòa Bình cũ đạt tỷ lệ nữ biết chữ là 99,81%, trong đó nữ dân tộc thiểu số và miền núi đạt 99,64% – vượt xa mục tiêu 93% được đặt ra trong Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030. Đây không chỉ là một thành tích trong lĩnh vực giáo dục mà còn là kết quả của quá trình kiên trì xóa mù chữ, giáo dục tiếp tục sau biết chữ và xây dựng mô hình học tập cộng đồng bền vững.

Tuy nhiên, biết chữ không đơn thuần là đích đến mà là điểm khởi đầu cho một hành trình dài hơi – hành trình trao quyền, xây dựng năng lực tự chủ cho người phụ nữ. “Khi người phụ nữ biết đọc, biết viết, họ có thể tiếp cận thông tin, hiểu quyền lợi, chủ động trong kinh tế gia đình và chăm sóc con cái. Quan trọng hơn, họ trở thành người truyền cảm hứng học tập trong bản làng, nơi mà việc cầm bút, đi học với phụ nữ từng là điều xa lạ, thậm chí bị cho là ‘không cần thiết'” – Ông Trần Văn An – Trưởng Phòng Giáo dục thường xuyên, Sở Giáo dục và Đào tạo chia sẻ.

Dù kết quả đạt được rất đáng ghi nhận, nhưng thực tế ở các xã vùng cao vẫn đặt ra không ít thách thức. Ở một số địa bàn đặc biệt khó khăn, việc duy trì kết quả sau xóa mù chữ chưa thật sự ổn định. Nhiều phụ nữ lớn tuổi quanh năm bám nương, ít có điều kiện tiếp cận thông tin vẫn đang đối mặt nguy cơ tái mù.

Những bước đi căn cơ đang dần được triển khai để đảm bảo “biết chữ” không chỉ là thành tích mà phải là nền móng cho sự phát triển. Từ năm 2025, Trường Cao đẳng Sư phạm Hòa Bình được giao nhiệm vụ đưa các nội dung về giới, bình đẳng giới và sức khỏe sinh sản vào chương trình đào tạo giáo viên. Cùng với đó, các trung tâm học tập cộng đồng ở cơ sở cũng đang được mở rộng vai trò. Từ chỗ chỉ dạy chữ sang hướng dẫn kỹ năng sản xuất, sử dụng công nghệ số, khởi nghiệp tại chỗ… Đây là bước đi cho thấy chương trình xoá mù, nâng cao năng lực cộng đồng không chỉ truyền đạt con chữ, mà còn giúp thay đổi tư duy, cách nghĩ, cách làm của đồng bào dân tộc thiểu số.

Từ một chương trình xóa mù chữ ban đầu, các địa phương đang chuyển mình từng bước để làm cho “học tập suốt đời” trở thành hiện thực ở cả những bản làng xa nhất. Và ở đó, mỗi người phụ nữ biết chữ, dù chỉ một câu, một dòng, cũng đang viết nên phần tương lai tươi sáng hơn của chính mình.

]]>
Phụ nữ dân tộc thiểu số khởi nghiệp bằng sản phẩm đặc trưng của địa phương https://saoviet.net/phu-nu-dan-toc-thieu-so-khoi-nghiep-bang-san-pham-dac-trung-cua-dia-phuong/ Sun, 31 Aug 2025 05:25:29 +0000 https://saoviet.net/phu-nu-dan-toc-thieu-so-khoi-nghiep-bang-san-pham-dac-trung-cua-dia-phuong/

Trong 8 năm qua, phong trào phụ nữ khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo (KNĐMST) tại tỉnh Cao Bằng đã diễn ra rất sôi nổi trên địa bàn các xã, phường. Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN) tỉnh Cao Bằng đã đóng vai trò quan trọng trong việc đẩy mạnh triển khai Đề án ‘Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp’ giai đoạn 2017-2025. Thông qua chương trình này, hàng nghìn lượt phụ nữ đã được tiếp cận kiến thức và nguồn vốn cần thiết để khởi nghiệp.

Hội LHPN tỉnh đã tổ chức 850 lớp tập huấn về khởi sự kinh doanh và truyền thông về KNĐMST cho gần 60.000 lượt hội viên. Đặc biệt, hội đã tổ chức các diễn đàn và ngày hội phụ nữ khởi nghiệp, mời các diễn giả và chuyên gia cấp quốc gia và quốc tế đến chia sẻ kinh nghiệm. Qua đó, chị em phụ nữ đã có cơ hội tiếp cận các dự án, ý tưởng và sản phẩm khoa học công nghệ, cũng như được hỗ trợ sản xuất và bán sản phẩm khởi nghiệp.

Hội LHPN tỉnh cũng đã phối hợp với các ngân hàng và tổ chức quốc tế để hỗ trợ hơn 20 tỷ đồng vốn vay và tài trợ khởi nghiệp cho phụ nữ. Qua chương trình này, đã có trên 100 ý tưởng khởi nghiệp được hỗ trợ, trong đó có trên 70 mô hình sản xuất kinh doanh hoạt động hiệu quả, tạo việc làm ổn định cho nhiều phụ nữ dân tộc thiểu số.

Qua 8 năm triển khai Đề án, Hội LHPN tỉnh đã tập huấn kiến thức KNĐMST cho hàng nghìn lượt phụ nữ cơ sở. Từ đó, nhiều chị em từng mặc cảm nghèo đói, thiếu tự tin đã thay đổi tư duy “làm nhỏ, bán lẻ” dám chọn lợi thế địa phương để xây dựng sản phẩm cho nhiều mô hình KNĐMST, lập kế hoạch tài chính, tìm kiếm đối tác, đưa sản phẩm ra thị trường, tự tin bước trên hành trình làm giàu bằng chính đôi tay, khối óc và sự bền bỉ của mình.

Đề án ‘Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp’ đã góp phần phát triển kinh tế – xã hội địa phương và tạo điều kiện cho chị em phụ nữ cơ sở tiếp cận với các nguồn lực và dịch vụ hỗ trợ. Từ thực hiện Đề án, đã đem lại sự thay đổi căn bản về nhận thức và hành động của phụ nữ cơ sở. Nhiều chị em đã dám nghĩ và dám làm, sản xuất quy mô và chất lượng cao, và nỗ lực xây dựng thương hiệu và uy tín.

Các xã, phường đã khơi dậy tiềm năng và thế mạnh của địa phương để khuyến khích chị em phụ nữ xây dựng sản phẩm thế mạnh địa phương. Nhiều phụ nữ dân tộc thiểu số đã được hỗ trợ kỹ thuật và vốn để sản xuất miến dong, thạch đen, và các sản phẩm OCOP chất lượng cao.

Nhìn chung, Đề án ‘Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp’ giai đoạn 2017-2025 đã đạt được nhiều kết quả tích cực, đóng góp vào sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Cao Bằng và nâng cao vị thế của phụ nữ trong cộng đồng.

]]>
Phụ nữ dân tộc thiểu số làm giàu từ đan dây lá buông https://saoviet.net/phu-nu-dan-toc-thieu-so-lam-giau-tu-dan-day-la-buong/ Sun, 31 Aug 2025 04:10:33 +0000 https://saoviet.net/phu-nu-dan-toc-thieu-so-lam-giau-tu-dan-day-la-buong/

Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Bắc Khánh Vĩnh đã triển khai một mô hình hỗ trợ hội viên, đặc biệt là phụ nữ đồng bào dân tộc thiểu số, kiếm thêm thu nhập thông qua việc thành lập Tổ đan dây lá buông. Tổ này được thành lập vào tháng 5 năm 2024 với 10 thành viên, đa phần là người Raglai. Với nguồn nguyên liệu lá buông dồi dào tại địa phương và một số khu vực lân cận, tổ đã hướng dẫn kỹ thuật đan lá buông và hỗ trợ chị em tìm đầu ra cho sản phẩm.

Người dân phơi lá buông.
Người dân phơi lá buông.

Quá trình làm dây lá buông bắt đầu từ việc chặt lá tươi, sau đó phơi khô và xé thành nhánh riêng để tước sợi. Kỹ thuật làm dây lá buông đòi hỏi sự tỉ mỉ và kinh nghiệm, đặc biệt là việc ủ lá qua đêm để lá không bị đứt gãy và giữ được màu xanh đặc trưng. Tổ trưởng Tổ đan dây lá buông, bà Cao Lệ Hân, đã chia sẻ kinh nghiệm của mình về cách làm dây lá buông, giúp các thành viên trong tổ có thể tạo ra sản phẩm chất lượng cao.

Công việc đan dây lá buông không đòi hỏi thời gian cố định, lại làm quanh năm nên ai cũng có thể làm. Các thành viên của tổ đã có thể kiếm thêm thu nhập cho gia đình thông qua việc làm dây lá buông. Trước đây, người dân tự bán cho thương lái với giá 2.000 đồng/cuộn, nhưng khi thành lập tổ, các thành viên hỗ trợ nhau chở sản phẩm đi tiêu thụ để có giá bán tốt hơn. Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Bắc Khánh Vĩnh đã đi liên hệ, tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm và hỗ trợ các thành viên trong tổ.

Hiện nay, các thành viên đã có thể bán sản phẩm với giá 3.000 đồng/cuộn, tăng thêm thu nhập cho gia đình. Tổ đan dây lá buông đã trở thành một mô hình giúp đỡ hội viên, đặc biệt là phụ nữ đồng bào dân tộc thiểu số kiếm thêm thu nhập và cải thiện cuộc sống. Mô hình này không chỉ giúp chị em có thêm thu nhập mà còn góp phần bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế địa phương.

Thời gian tới, Hội Liên hiệp Phụ nữ xã sẽ tiếp tục nhân rộng mô hình để nhiều hội viên tham gia, giúp chị em có điều kiện kiếm thêm thu nhập lo cho gia đình. Đồng thời, Hội cũng sẽ tiếp tục tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm và hỗ trợ các thành viên trong tổ để mô hình này có thể phát triển bền vững.

]]>
Gần 7.000 bà mẹ dân tộc thiểu số được hỗ trợ sinh đẻ an toàn https://saoviet.net/gan-7-000-ba-me-dan-toc-thieu-so-duoc-ho-tro-sinh-de-an-toan/ Sat, 23 Aug 2025 18:40:10 +0000 https://saoviet.net/gan-7-000-ba-me-dan-toc-thieu-so-duoc-ho-tro-sinh-de-an-toan/

Một dự án hỗ trợ phụ nữ dân tộc thiểu số (DTTS) sinh đẻ an toàn và chăm sóc sức khỏe trẻ em đang được triển khai mạnh mẽ tại 10 tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Dự án này là một phần của Dự án 8 thuộc Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2030.

Chị em phụ nữ DTTS ở Hà Giang được tập huấn kiến thức làm mẹ an toàn và chăm sóc sức khỏe trẻ em
Chị em phụ nữ DTTS ở Hà Giang được tập huấn kiến thức làm mẹ an toàn và chăm sóc sức khỏe trẻ em

Mục tiêu của dự án là giảm tỷ lệ sinh con tại nhà, đặc biệt là ở những vùng có đông người DTTS và có tỷ lệ sinh con tại nhà cao hơn mức trung bình của cả nước. Theo kết quả Điều tra thực trạng kinh tế xã hội 53 DTTS Việt Nam năm 2019 của Tổng cục Thống kê, các tỉnh gồm Gia Lai, Kon Tum, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu, Sơn La, Điện Biên là những địa bàn có tỷ lệ sinh con tại nhà cao.

Để đạt được mục tiêu này, Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN) Việt Nam đã đề xuất bổ sung đầy đủ gói chính sách hỗ trợ chế độ cho bà mẹ đi khám thai trong Thông tư 55/2023/TT-BTC. Đồng thời, hội cũng đề xuất hỗ trợ gói vật tư chăm sóc khi sinh đối với trường hợp bà mẹ sinh từ 2 bé trở lên.

Để triển khai dự án, Hội LHPN các cấp đã phối hợp với ngành Y tế cùng cấp triển khai 4 gói hỗ trợ, bao gồm hỗ trợ chế độ cho bà mẹ đi khám thai, hỗ trợ vật tư chăm sóc khi sinh, hỗ trợ sinh đẻ an toàn và chăm sóc sức khỏe trẻ em. Tính đến nay, các tỉnh đã chi trả chế độ hỗ trợ cho gần 7.000 bà mẹ với tổng kinh phí hỗ trợ khoảng 9 tỷ đồng.

Đáng chú ý, 5 trong 10 tỉnh đã đạt và vượt chỉ tiêu 80% phụ nữ thuộc nhóm dân tộc có tỷ lệ sinh con tại nhà cao được tuyên truyền, vận động, tư vấn kiến thức và tiếp cận với dịch vụ sinh đẻ an toàn. Hội LHPN Việt Nam cũng đã tổ chức 8 chuỗi sự kiện truyền thông vận động phụ nữ sinh đẻ an toàn và chăm sóc sức khỏe trẻ em tại 8 tỉnh có tỷ lệ sinh con tại nhà cao.

Dự án này không chỉ giúp giảm tỷ lệ sinh con tại nhà mà còn nâng cao kiến thức và kỹ năng chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ DTTS, góp phần cải thiện sức khỏe bà mẹ và trẻ em tại các vùng khó khăn.

]]>
Lào Cai: Phụ nữ dân tộc thiểu số đổi đời nhờ trồng măng và ứng dụng kỹ thuật tiên tiến https://saoviet.net/lao-cai-phu-nu-dan-toc-thieu-so-doi-doi-nho-trong-mang-va-ung-dung-ky-thuat-tien-tien/ Mon, 04 Aug 2025 07:28:26 +0000 https://saoviet.net/lao-cai-phu-nu-dan-toc-thieu-so-doi-doi-nho-trong-mang-va-ung-dung-ky-thuat-tien-tien/

Ở tỉnh Lào Cai, nhiều phụ nữ dân tộc thiểu số đã thành công trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình thành các tổ hợp tác, hợp tác xã. Họ đã biến tiềm năng núi rừng thành hàng hóa, áp dụng khoa học kỹ thuật vào xây dựng thương hiệu sản phẩm, góp phần phát triển kinh tế xanh, bền vững và tạo việc làm cho lao động tại địa phương.

Hợp tác xã Dần Thàng tạo việc làm ổn định cho khoảng 15–20 người dân và thu nhập cho hàng trăm hộ liên kết
Hợp tác xã Dần Thàng tạo việc làm ổn định cho khoảng 15–20 người dân và thu nhập cho hàng trăm hộ liên kết

Tại Lào Cai, đồng bào dân tộc thiểu số các xã Văn Bàn, Chiềng Ken, Minh Lương, Nậm Chày, Nậm Xé đã gắn bó mật thiết với những rừng măng. Măng không chỉ giúp họ nuôi sống gia đình mà còn gìn giữ một phần văn hóa bản địa. Tuy nhiên, cuộc sống gắn liền với măng cũng đồng nghĩa với sự bấp bênh: sản lượng không ổn định, giá cả bị thao túng bởi thương lái và thiếu cơ hội vươn ra thị trường lớn.

Một công đoạn chế biến măng của bà con Hợp tác xã Măng Dần Thàng
Một công đoạn chế biến măng của bà con Hợp tác xã Măng Dần Thàng

Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa, nhiều phụ nữ dân tộc thiểu số tại địa phương đã tham gia vào các dự án phát triển ngành măng, đưa sản phẩm từng bước chinh phục thị trường. Chị Triệu Thị Lai, người dân tộc Dao ở xã Nậm Xé, tỉnh Lào Cai, là một minh chứng sinh động cho hành trình thay đổi đó. Suốt nhiều năm, cuộc sống của chị gắn với những nhịp thở nơi rừng măng. Với 3-4 hecta rừng, gia đình chị dựa vào những mùa thu hoạch măng để mang lại phần lớn thu nhập hằng năm.

Từ những rừng măng bạt ngàn, những ngườ phụ nữ vùng cao đang nỗ lực vươn lên, đón nhận những cơ hội phát triển mới.
Từ những rừng măng bạt ngàn, những ngườ phụ nữ vùng cao đang nỗ lực vươn lên, đón nhận những cơ hội phát triển mới.

Tuy nhiên, mọi thứ bắt đầu thay đổi từ năm 2020, khi chị tham gia Dự án Thúc đẩy Bình đẳng Giới thông qua Nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất Nông nghiệp và Phát triển du lịch. Thông qua dự án, chị được tiếp cận với kỹ thuật canh tác tiên tiến, cải tạo đất, giúp tối ưu hóa việc trồng măng, tăng năng suất và chất lượng măng. Đặc biệt, chị đã tìm được đầu ra mới ngoài địa phương. Việc bán măng ra các tỉnh lân cận đã giúp giá măng đáng kể, từ 25.000 đồng/kg lên 35.000 đồng/kg măng đã bóc vỏ. Nhờ đó, thu nhập từ măng của gia đình chị tăng từ 20 triệu đồng một vụ lên 30 triệu đồng một vụ cho diện tích trồng 3 hecta.

Phát triển kinh tế hàng hóa từ rừng núi: Hướng đi bền vững cho phụ nữ dân tộc thiểu số- Ảnh 3.
Phát triển kinh tế hàng hóa từ rừng núi: Hướng đi bền vững cho phụ nữ dân tộc thiểu số- Ảnh 3.

Năm 2024, chị Triệu Thị Lai thực hiện mục tiêu dài hơi hơn, từ một người nông dân trồng măng, chị quyết tâm gây dựng một mô hình kinh tế tập thể quy mô nhỏ, do chính những người phụ nữ dân tộc thiểu số làm chủ. Nhận được sự đồng hành của chính quyền địa phương, của các cấp Hội phụ nữ, Công ty Tư vấn giải pháp Nông nghiệp và Du lịch CRED, vợ chồng chị Lai cùng 9 hộ gia đình khác trong xã đã thành lập Hợp tác xã Măng Nậm Xé.

Người phụ nữ dân tộc Dao gắn bó mật thiết với những rừng măng.
Người phụ nữ dân tộc Dao gắn bó mật thiết với những rừng măng.

Thông qua hợp tác xã, các hộ dân có cơ hội được đào tạo chuyên sâu về kỹ thuật canh tác, bóc vỏ và thu hoạch măng, đồng thời ký kết hợp đồng lâu dài với một công ty thu mua. Đây là những bước tiến quan trọng giúp các thành viên trong hợp tác xã, từng bước thoát khỏi sự lệ thuộc vào thương lái.

Được tiếp cận với kỹ thuật canh tác tiên tiến, măng của hợp tác xã Nậm Xé có năng suất cao hơn và chất lượng tốt hơn
Được tiếp cận với kỹ thuật canh tác tiên tiến, măng của hợp tác xã Nậm Xé có năng suất cao hơn và chất lượng tốt hơn

Sự thành công và chuyển biến tích cực trong gia đình chị Lai và các hộ lân cận đã tạo động lực mạnh mẽ cho những người phụ nữ khác ở các xã lân cận, thúc đẩy họ chủ động thành lập các hợp tác xã riêng, nắm bắt cơ hội từ giá trị đang ngày càng tăng lên của ngành măng.

Tại xã Nậm Chày, Hợp tác xã Măng Dần Thàng do chị Hà Thị Thu Hương làm Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc cũng đang tạo dựng cơ hội kinh doanh và việc làm ổn định, bền vững, giúp bà con vùng núi khó khăn vươn lên thoát nghèo.

Hợp tác xã Măng Dần Thàng được thành lập vào tháng 8/2024 với tổng số 15 thành viên, 100% đều là chị em phụ nữ dân tộc thiểu số tại địa phương. Hợp tác xã hiện nay đang liên kết sản xuất măng với 4 tổ hợp tác, bao gồm 161 hộ dân tại xã Dần Thàng.

Năm 2024, Hợp tác xã đã ký kết thỏa thuận hợp tác 10 năm với Công ty Kim Bôi về việc thu mua sản phẩm măng đạt chất lượng do Hợp tác xã sản xuất. Được tham gia các chương trình tập huấn, chuyển giao công nghệ chế biến và bảo quản măng để hình thành chuỗi chế biến khép kín, tiêu thụ ổn định, hợp tác xã Dần Thàng đã đầu tư 400 triệu đồng xây dựng nhà máy 160m², có thể xử lý tới 1.000 tấn măng tươi mỗi năm.

Chặng đường hình thành, phát triển hợp tác xã của chị Triệu Thị Lai, chị Hà Thị Thu Hương cho thấy sự cần thiết của sự liên kết, hợp tác đồng hành giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và nhà nước, trong quá trình đưa sản phẩm của núi rừng tiếp cận với thị trường trong nước.

Tạo việc làm và mở ra cơ hội phát triển kinh tế cho phụ nữ dân tộc thiểu số là một trong những mục tiêu quan trọng của các dự án phát triển ngành măng. Không chỉ hướng tới lợi nhuận, mô hình hợp tác xã măng còn mang giá trị xã hội lớn.

Từ chỗ lao động đơn lẻ, manh mún, người dân, nhất là phụ nữ dân tộc thiểu số được tổ chức sản xuất bài bản, có thu nhập ổn định, có cơ hội học hỏi và thể hiện vai trò lãnh đạo. Nhờ những thay đổi tích cực trong ngành măng cùng với quyết tâm không ngừng nghỉ của những người phụ nữ như chị Triệu Thị Lai và chị Hà Thị Thu Hương, những ngọn măng trong rừng núi Lào Cai không chỉ đơn thuần là kế sinh nhai mà còn góp phần tạo nên cho sự phát triển bền vững cho cộng đồng.

Tại các vùng miền, người tiêu dùng ngày càng ưa chuộng đặc sản vùng cao với tiêu chuẩn an toàn, truy xuất nguồn gốc và giá trị văn hóa đi kèm. Những sản phẩm măng rừng với vị ngọt thanh, độ giòn đặc trưng và được chế biến theo quy trình sạch của Lào Cai đang dần khẳng định vị thế không chỉ tại các chợ truyền thống, mà có mặt tại các hội chợ, trên quầy kệ của các siêu thị, và trên các nền tảng bán hàng thương mại điện tử.

Tiếp nối hành trình phát triển kinh tế hàng hóa vùng dân tộc thiểu số và miền núi, cần có chính sách dài hạn từ Nhà nước, từ Bộ Công Thương và các Bộ, ngành, cơ quan, tổ chức trong việc hỗ trợ hạ tầng sản xuất, vốn tín dụng ưu đãi, chuyển giao khoa học công nghệ, xúc tiến thương mại và bảo hộ thương hiệu. Quan trọng hơn cả là niềm tin vào năng lực của những người phụ nữ vùng cao, trao cho họ cơ hội để góp sức phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

]]>